Chào ngày mới

Chia sẻ mạng xã hội

: : Bookmark and Share

Thông tin tài nguyên

Tài nguyên thư viện

Tìm kiếm



Tìm kiếm nâng cao

Tra từ điển


Tra theo từ điển:



Liên kết Website

Liên kết Website 2

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

kythvietlong@gmail.com

Các trang toán học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Báo mới

    Đồng hồ

    Chức năng chính 1

    Menu chức năng 2

    Gốc > Tư liệu lịch sử > Tư liệu Bác Hồ >

    Việt Bắc trong thơ Bác Hồ

    alt



    Sau ba mươi năm tìm đường cứu nước, mảnh đất đầu tiên Bác Hồ đặt chân khi về nước (2/1941) là Pác Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Từ đấy, Pác Bó nói riêng, Việt Bắc nói chung, in đậm trong thơ lãnh tụ vĩ đại, nhà thơ lớn Hồ chí minh. Và bài thơ đầu tiên Bác Hồ viết sau khi về nước, cũng là bài ngợi ca cảnh đẹp Pác Bó:

    Non xa xa, nước xa xa
    Nào phải thênh thang mới gọi là
    Đây suối Lê – nin, kia núi Mác
    Hai tay xây dựng một sơn hà.­­*

    Bài này, Bác Hồ đặt tên là “Pác Bó hùng vĩ”. Ai đến Pác Bó hẳn thấy, từ ngoài vào, men theo đường đi là dòng suối trong, nhìn lên là ngọn núi cao sừng sững giữa rừng cây đại ngàn. Sau ngày về nước, Bác Hồ đặt tên dòng suối là suối Lê-nin, còn ngọn núi cao là núi Các-mác. Cũng ở Pác Bó, Bác còn có bài thơ đặc tả “Cảnh rừng Pác Bó” với những nét thực mà gợi:

    Chung quanh xanh ngắt một màu
    Hoa chen lá phủ, trên đầu bóng cây
    Chim từng lũ, thú từng bầy
    Thú kêu inh ỏi, chim bay là là
    Giọng khe róc rách dưới nhà
    Bên tường cảnh vẽ bức hoa bên mình.

    Cảnh rừng Pác Bó đẹp như vậy, nhưng dẫu sao cũng mới dừng ở cảnh sắc thiên nhiên với những nét khắc họa chân thật và xúc động. Phải đến những năm sau, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công, bước vào cuộc khởi nghĩa chống Pháp, thiên nhiên và con người nơi núi rừng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ mới hòa quyện, ấm cúng hơn. Vẫn cảnh sinh hoạt giản dị nơi núi rừng nnhư ngày còn ở hang Pác Bó: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”, nhưng Việt Bắc chín năm  kháng chiến đã trở thành “Thủ đô gió ngàn” rộn rã quân đi, khách đến, thì những buổi sin h hoạt cũng hết sức tự nhiên, chân thành, ấm cúng. Có thể thấy rõ cảnh đó khi đọc bài thơ đầu tiên Bác Hồ viết (1947) sau khi trở lại căn cứ địa Việt Bắc, bài “Cảnh rừng Việt Bắc”. Mở đầu, Bác như không nén được cảm xúc, reo lên: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay/ Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”. Quả là một thiên nhiên còn mang nhiều nét nguyên sơ. Không chỉ ở tiếng chim kêu, vượn hót mà ngay cả những sinh hoạt thường nhật của con người nơi núi rừng bạt ngàn Việt Bắc cũng tự nhiên, dân giã, thấm đẫm tình cảm với thiên nhiên, với con người, phù hợp với hoàn cảnh: “Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay”. “Cảnh rừng Việt Bắc” là bài thơ hay, không chỉ vẽ nên cảnh sắc thiên nhiên đẹp, “Non xanh, nước biếc tha hồ dạo”, mà người đọc còn thấy nét sinh hoạt giản dị, dân giã của Bác Hồ trong những năm tháng khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng cái để lại, lắng sâu trong người đọc qua “Cảnh rừng Việt Bắc” là niềm lạc quan, tin tưởng vào cách mạng nhất định thành công, với lời hẹn chắc như đinh đóng cột: “Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. Cũng năm 1947, Bác còn có bài “Cảnh khuya”, chỉ có bốn câu tả cảnh đêm khuya trong rừng sâu, có suối trong như tiếng hát, có ánh trăn lồng vào rừng cây, nhưng qua dòng tả cảnh ấy, người đọc lại cảm nhận rõ sức làm việc của Bác Hồ không ngơi nghỉ, luôn nghĩ suy công việc nước nhà:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa
    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
    Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Cũng một bài thơ bốn câu, nhưng viết bằng chữ Hán, khoáng đạt và sâu đằm, mà ngày nay cứ đến Ngày thơ Việt nam lại có hàng vạn người yêu thơ chăm chú lắng nghe, hoặc tìm đọc lại, bài “Rằm tháng giêng”(Nguyên Tiêu). Có lẽ Bác Hồ làm bài này vào đêm khuya rawmg tháng giêng “lồng lộng trăng soi”, con thuyền đưa Bác và những cộng sự đi trên sông họp bàn việc “Cơ mật”, mãi khuya mới về, trong cảnh thanh vắng lại có trăng ngân:

    Rằm xuân lồng lộng trăng soi
    Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
    Giữa dòng bàn bạc việc quân
    Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

    Bài thơ như bức họa phong cảnh đêm trăng lồng lộng soi xuống dòng sông, và dòng sông xuân nước trong ngăn ngắt như lẫn với màu trời xanh, lại càng thêm đẹp diệu huyền. Giữa cảnh sắc ấy, con thuyền nhẹ trôi trên dòng sông lặng ngắt như tờ, đưa những người đang chèo lái con thuyền kháng chiến của nhân dân đi trên dòng sông để suy tính những bước đi quyết định thúc đẩy cuộc kháng chiến mau đến thành công. Cũng như ở bài thơ “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng”, hay thơ tức cảnh nói chung của Bác Hồ không dừng lại ở cảm xúc trước thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, mà còn đi sâu biểu hiện tâm trạng, suy nghĩ trước những vấn đề lớn của dân tộc, của thời đại. Thơ vì thế không tách cảnh với người, tả chỉ để mà tả, mà ngược lại, ở bài nào người đọc cũng dễ nhận ra nhà thơ tả cảnh là để tả người, tâm trạng con người, trong cảnh có tình, trong tình có cảnh, hòa quyện. Ngay ở trong bài thơ viết bằng chữ Hán, bài “Tặng Bùi Công”(tức cụ Bùi Bằng Đoàn) Bác Hồ viết rất thực, như chỉ kể về công việc của mình trong căn phòng nhỏ, nhưng vẫn im đậm cảnh sắc núi rừng với tiếng chim ca ríu rít và hương hoa ngào ngạt: “Xem sách, chim rừng sà bậu cửa/ Lệnh phê, nghiên mực bóng hoa lồng”. Một phong cảnh thiên nhiên như hòa với con người, khi ngồi đọc sách lại có chim bay vào đậu cửa, lúc ký công văn (phê), giấy tờ lại có bóng hoa la đà bên cửa sổ, thì hẳn là ít nơi có cảnh này. Cũng một bài thơ Bác Hồ viết bằng chữ Hán, bài “Vô đề”, người đọc như thấy tận mắt cảnh đường dồn dập bước chân đoàn quân đi giữa rừng cây và rừng hoa, với từng đàn chim mỗi khi nghe tiếng chân người lại vội vã bay lên: “Đường non, khách tới hoa đầy/ Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn”. Giữa cảnh núi rừng rộn rã tiếng chân đoàn quân đang tiến bước, Bác Hồ của chúng ta mới có phút thảnh thơi, sau khi đã bàn định xong công việc, nhưng cả ngay phút thảnh thơi ít có ấy, Bác cũng không dành riêng cho mình, mà người vẫn nghĩ đến các cháu nhỏ trong cơ quan: “Việc quân, việc nước đã bàn/ Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau”. Đọc câu thơ này, hẳn không mấy ai không nghĩ tới ông già nông thôn hiền từ, nhân hậu, chăm vườn tược, yêu trẻ con. Bác Hồ của chúng ta là thế bình thường và giản dị như bao người cao niên khác. Nhưng lúc nào Bác cũng nghĩ đến mọi người, ngay cả lúc trèo lên núi cao quan sát mặt trận đường số 4 (1950), thì cảnh núi rừng trùng điệp không làm Người chùng gối mỏi chân, mà chỉ làm Bác Hồ càng thêm nghĩ tới các chiến sỹ đang vượt khó khăn dũng cảm tiến lên tiêu diệt lũ “sói cầy”. Bài thơ dồn dập, hừng hực khí thế: “Chống gậy lên non xem trận địa/ Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây/ Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu, Đẩu? Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”. Có thể nói, trước phong cảnh hữu tình nơi chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ ít khi nghĩ đến cuộc sống thường nhật của mình, lại càng ít nghĩ đến nghỉ ngơi vui hưởng cảnh sắc nơi rừng xanh, núi cao, có chăng cũng chỉ như hẹn với lòng mình: “Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. Nhưng có một lần, trong bài “Đối trăng”, người đọc gặp Bác sau khi ngắm “trăng nhích bóng” ngoài sân, hẳn là cũng khuya lắm rồi, việc quân, việc nước đã bàn xong, Người mới đi nghỉ, và ngay cả khi ấy, Bác vẫn như cảm nhận rất rõ ánh trăng đang nhòm vào bên gối, một hình ảnh rất đẹp:

    Ngoài song trăng rọi cây sân
    Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song
    Việc quân, việc nước bàn xong
    Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

    Chỉ đến khi cuộc trường kỳ kháng chiến thắng lợi, hòa bình lập lại (1954) trong “Cảm hứng”, bài thơ cuối cùng Bác Hồ làm ở Việt Bắc, Người mới có phút giây thư nhàn cho phép mình “ngao du cùng tuế nguyệt” khi đón nàng thơ, bạn vẽ đến chơi:

    Kìa bãi cát, nọ rừng thông
    Nước non, non nước, khéo một vùng
    Đang đợi nàng thơ cùng bạn vẽ
    Đến chơi cảnh núi với tình sông
    …Được phép ngao du cùng tuế nguyệt
    Vì rằng kháng chiến đã thành công.

    Thơ Bác Hồ làm những năm ở chiến khu Việt Bắc, trước và sau Cách mạng Tháng Tám (1945), hầu như bài đọc nào người đọc cũng gặp cảnh sắc thiên nhiên đẹp một cách tự nhiên, kỳ ảo. Nhưng hình ảnh được nhà thơ lón Hồ Chí Minh sử dụng nhiều có lẽ là ánh trăng: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” (Cảnh khuya), “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” (Báo tin thắng trận). Ngay một bài thơ chữ Hán có bốn câu (Rằm tháng giêng), chỉ một ánh trăng nhưng được Bác hai lần khắc họa với hai trạng thái khác nhau, lần thứ nhất, mở đầu là ánh trăng soi: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi”, còn lần thứ hai, kết bài là ánh trăng ngân: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Nhưng có lẽ ở bài “Đối trăng” vùa dẫn, ánh trăng trong rừng cây được Bác Hồ quan sát kỹ lắm mới thấy được từng cái “nhích bóng” của trăng, làm cho cây thì như gần như xa, và như thế hẳn là khuya lắm rồi Bác mới đi nghỉ và cả khi đi nghỉ Bác vẫn còn suy công việc mới thấy “trăng nhòm”, “bên song”. Trăng trong thơ bác viết ở chiến khu Việt Bắc là hình ảnh đẹp và giàu gợi cảm, làm cho người đọc càng thêm yêu Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng, nơi “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Và đấy cũng là điều người viết dòng này muốn cùng bạn đọc lại thơ Bác Hồ làm thời kỳ Người ở chiến khu Việt Bắc./.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Văn Kỳ @ 17:42 17/04/2013
    Số lượt xem: 1047
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tổng hợp bài giảng theo từng môn học

    Cười một chút

    Phong cảnh Việt Nam

    Phong cảnh