Chào ngày mới

Chia sẻ mạng xã hội

: : Bookmark and Share

Thông tin tài nguyên

Tài nguyên thư viện

Tìm kiếm



Tìm kiếm nâng cao

Tra từ điển


Tra theo từ điển:



Liên kết Website

Liên kết Website 2

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

trankyvietlong@gmail.com

Các trang toán học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Báo mới

    Đồng hồ

    Chức năng chính 1

    Menu chức năng 2

    Gốc > Giáo dục >

    54 DÂN TỘC VIỆT NAM

    54 DÂN TỘC VIỆT NAM

     HÌNH ẢNH CỘNG ĐỒNG 54 DÂN TỘC VIỆT NAM
    Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang xây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
    Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
    Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mãnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
    Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hoá xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chứa đựng sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long.
    Ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp với sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
    Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên của thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong vụ hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơn mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hoà về mầu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo, dốc. Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính huyền bí, huyền ảo. Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khoẻ, cho gia súc và cho mùa màng bội thu. Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể sánh được với các truyện thần thoại của Trung Quốc, ấn Độ nhưng chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ. Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T'rưng, đàn Krông pút... những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khỏe khoắn kết bó cộng đồng.
    Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề chài lưới. Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng. Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa.
    Ở  khắp nơi, con người hoà nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biết chiều lòng người, không phụ công sức người.
    Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực. ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo, và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau:
    Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.
    Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
    Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
    Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.
    Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo.
    Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.
    Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.
    Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.
    Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình. Ở đây cái đa dạng của văn hoá dân tộc được thống nhất trong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.
    Thời đại Hồ Chí Minh mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng tháng 8/1945 đã đổi đời các dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhất quán từ đầu là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng đất nước theo mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.
    Thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn và sáng tạo trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn, rất mới mẻ, rất hiện đại. Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ, thuỷ lợi, viễn thông đã phát triển đến tuyến huyện và đang chuyển dần về xã, bản, nhanh, chậm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng. Với tư cách là người làm chủ đất nước, các dân tộc tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước ngày càng nhiều, cao hơn. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật được Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng trong các dân tộc. Vốn văn hoá, nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc được sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy.
    Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân tộc.
     
    DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
    TT
    Dân tộc
    Tên tự gọi
    Tên gọi khác
    Nhóm địa phương
    1
    Kinh (Việt)
     
    Kinh
     
    2
     
    Thổ
    Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.
    3
     
    Tay, Thay
    Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ
    Ngành Đen (Tay Đăm). Ngành Trắng (Tay Đón hoặc Khao)
    4
     
    Mol (Mon, Moan, Mual)
     
    Ao Tá (Âu Tá), Bi
    5
    Hoa (Hán)
     
     
    Khách, Hán, Tàu
     
    Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ...
    6
     
    Khmer
    Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khmer K'rôm
     
    7
     
    Nồng
     
    Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín
    8
     
     
    HMông(Mèo)
    Hmông, Na miẻo
    Mẹo, Mèo, Miếu Ha, Mán Trắng
    Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo
    9
    Kìm Miền, Kìm Mùn
    Mán
    Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, DaoTiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn
    10
    Gia Rai
    Giơ Ray, Chơ Ray
    Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân
    11
    Anăk Ê Đê
    Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê-Êgar, Đê
    Kpă, Adham, Krung, Mđhu, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, arul, Hwing, Ktlê, Êpan
    12
    Ba Na
    BơNâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông
    Rơ Ngao, Rơ Lơng (Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar, Krem
    13
    Sán Chay
    (Cao lan - Sán chỉ)
    Sán Chay
     
     
    Hờn Bán, Chùng, Trại...
    Cao Lan, Sán Chỉ
    14
    Chăm(chàm)
     
    Chàm, Chiêm, Chiêm thành, Chăm Pa, Hời...
    Chăm Hroi, Chăm Pông, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc
    15
    Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ., Châu
    Xơ Đăng, Kmrâng, Con Lan, Brila.
     
    Xơ Trng, Tơ Đrá, Mnâm. Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
    16
    San Déo Nhín ( Sơn Dao Nhân)
    Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ
     
    17
    Hrê
    Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Lũy, Sơn Phòng, Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Chòm, Rê, Man Thạch Bích.
     
    18
    Cơ-Ho
     
    Xrê, Nộp (Tu Nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring.
    19
     
     
     
     
    Rai, Hoang, La Oang
    20
    M'Nông
     
     
    Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Đíp, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Đâng, Mnông Bu Đêh...
    21
    Thổ
    Người Nhà làng. Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng
    Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng
    22
     
    Xa Điêng, Xa Chiêng
    Bù Lơ, Bù Đek (Bù Đêh), Bù Biêk.
    23
    Kmụ, Kưm Mụ
    Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Măng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh
     
    24
    Bru
    Bru, Vân Kiều
    Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong
    25
    Giáy
    Nhắng, Dẳng
     
    26
    Cơ Tu
    Ca Tu, Ka Tu
     
    27
    Gié, Triêng, Ve, Bnoong
    Cà Tang, Giang Rẫy
    Gié (Giẻ),Triêng,Ve, Bnoong (Mnoong)
    28
     
    Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua, Pa Hi ...
    Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi
     
    29
    Mạ
    Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ
    Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung
    30
    Cor, Col
    Cua, Trầu
     
    31
     
    Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng
     
    32
    Hà Nhì Già
    U Ní, Xá U Ní
    Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen
    33
    Xinh Mun
    Puộc, Xá, Pnạ
    Xinh Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.
    34
     
    Chơ Ru, Kru, Thượng
     
    35
    Thay, Thay Duồn, Thay Nhuồn
    Phu Thay, Phu Lào
    Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ)
    36
    Cù Tê
    Thổ Đen, Mán, Xá
     
    37
     
     
    Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá
    Xá Phó, Cần Thin
    Phù Lá Lão-Bồ Khô Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán
    38
    La Hủ
    Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú
    La hủ na (đen), La-hủ sư (vàng) và La-hủ phung (trắng)
    39
    Mơ Kháng
    Háng, Brển, Xá
    Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Bén, Bủ Háng Cọi
    40
    Lừ, Thay, Thay Lừ.
    Phù Lừ, Nhuồn, Duồn
    Lự Đen (Lự Đăm), Lự Trắng (ở Trung Quốc)
    41
    Pà Hưng
    Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Bát tiên tộc...
     
    42
    Lô Lô
    Mùn Di, Di, Màn Di, La Ha, Qua La, Ô man, Lu Lộc Màn
    Lô Lô hoa, Lô Lô đen
     
    43
    Chứt
    Rục, Arem, Sách.
    Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng
    44
    Mảng
    Mảng Ư, Xá Mảng,
    Mảng Gứng, Mảng
    45
    Cờ Lao
    Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề.
    Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ
    46
    Bố Y
    Chủng Chá, Trọng Gia...
    Bố Y và Tu Dí
    47
    La Ha, Klá Plạo
    Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hả, Pụa
    La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha ủng)
     
    48
    Xám Khống, Phuy A
     
     
    49
    Sán Ngải
    Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đản, Lê, Xuyến
     
    50
    Cù Dề Sừ
    Kha Pẻ
     
    51
    Kabeo
    La Quả, Penti Lô Lô
     
    52
     
    Brao
     
    53
     
     
     
    54
    Ơ Đu, I Đu
    Tày Hạt
     
    (Nguồn: Ủy ban Dân tộc)


    1. Bộ sưu tập một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt NamViệt Nam có 54 Dân tộc, 54 dòng máu Việt mang nhiều phong tục, tập quán và đậm đà sắc thái trang phục, tôi hằng ước ao được du lịch quanh vùng đất nước để ghi lại những nét văn hóa của 54 Dân tộc Việt mình, nhưng thật sự không đơn giản và dễ dàng! 


      Bộ sưu tập "Một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam" là Hình ảnh và là các tác phẩm của nhiều Tác giả trên khắp đất nước Việt Nam, đã bỏ nhiều công sức, thời gian và tiền bạc; đã đi và đã đến “ăn mật, nằm gai” để ghi lại từng khoảnh khắc của cộng động 54 dân tộc Việt, tôi chỉ là người đam mê cái đẹp và say đắm cái tinh túy hồn Việt qua mỗi bức ảnh. Sưu tầm được một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam, ban đầu chỉ vì nhận thấy hồn Việt mình sao mà đẹp, đẹp lung linh như ánh trăng quê và đẹp man dại như sắc màu 54 dân tộc! Trong bộ sưu tập, còn có nhiều tác phẩm của các Tác giả người nước ngoài, họ đã đến và ghé lại Việt Nam để ăn ở, sinh hoạt cùng người Việt chúng ta và say đắm cùng “Phượt”…

      Diễn đàn chúng ta phát triển theo xu hướng thiên về Photo! Từ thiết bị, sản phẩm, phần mềm, kỹ thuật... và tác phẩm, đều nhấn mạnh Nhiếp ảnh, cho nên Bộ sưu tập cũng thiên về Nhiếp ảnh, mượn Hình ảnh để khái quát 54 Dân tộc Việt Nam, không nặng nề, bề bộn về "Dân tộc học" làm người xem khi thưởng lãm "du lịch" cảm thấy "mỏi mắt" khi phải đọc ngồn ngộn thông tin như "Khảo cứu Dân tộc học". Bộ sưu tập chưa phải là công trình nghiên cứu gì to tác về Dân tộc học, cũng chưa phải là công trình Biên khảo… bởi vì những hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam là do tôi sưu tầm, trong quá trình biên tập nôi dung, truy tìm nguồn gốc của từng hình ảnh để đảm bảo tính chân thực về Dân tộc học tôi đã gặp không ít những trở ngại, khó khăn… Xin các bạn ghé trang:
      http://www.vnphoto.net/forums/showthread.php?t=180653 để có thể hiểu được phần nào những vấn đề nan giải trong quá trình biên tập!

      Với thời gian quá ít ỏi so với phạm trù Dân tộc học, để có thể trình làng Bộ sưu tập tôi đã hết sức cố gắng, nhưng có thể còn nhiều thiếu xót, kính xin tất cả Quý vị, các bạn chân tình góp ý và đóng góp cụ thể từng chuyên mục để hy vọng Bộ sưu tâp sẽ hoàn thiện hơn!

      Xin các Tác giả, các Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, cùng tất cả các Anh, chị và các bạn cho phép tôi được phép dùng những tác phẩm Nhiếp ảnh của Qúy vị để minh họa một phần nào về 54 Dân tộc Việt Nam! Tôi thực sự trân trọng những công sức, tài năng và tấm lòng “vàng” của tất cả Qúy vị!

      Từ Topic "Bộ sưu tập một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam" tôi xin kính mời mọi người cùng chung tay tham gia Nhiếp ảnh về Hình ảnh của 54 Dân tộc Việt Nam! Để từ đó, Diễn đàn chúng ta, trong Topic này sẽ là điều thú vị cho ai muốn tìm hiểu về 54 Dân tộc Việt Nam thông qua Hình ảnh (Có thể, người nào ở vùng miền nào thì đăng tải Hình ảnh của mình về Dân tộc của vùng miền đó...) 


      Trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam_Theo: (baomoi.com)


      54 Dân tộc Việt Nam_Theo: (dulichgo.blogspot.com)


      Các chàng trai, cô gái Tày, Nùng, Giáy…_Theo: (baogialai.com)


      54 Dân tộc Việt Nam_Theo: (dulichgo.blogspot.com)


      54 Dân tộc Việt Nam:
      01. Ba Na, 02. Bố Y, 03. Brau, 04. Bru Vân Kiều, 05. Chăm, 06. Chơ Ro, 07. Chu Ru, 08. Chứt, 09. Co, 10. Cơ Ho, 11. Cơ Lao, 12. Cơ Tu, 13. Cống, 14. Dao, 15. Ê Đê, 16. Gia Rai, 17. Giáy, 18. Giẻ Triêng, 19. Hà Nhì, 20. H'Mông, 21. Hrê, 22. Hoa, 23. Kháng, 24. Khmer, 25. Khơ Mú, 26. Kinh (Việt), 27. La Chí, 28. La Ha, 29. La Hủ, 30. Lào, 31. Lô Lô, 32. Lự, 33. M’nông, 34. Mạ, 35. Mảng, 36. Mường, 37. Ngái, 38. Nùng, 39. Ơ Đu, 40. Pà Thẻn, 41. Phù Lá, 42. Pu Péo, 43. Ra Glai, 44. Rơ Măm, 45. Sán Chay, 46. Sán Dìu, 47. Si La, 48. Tà Ôi, 49. Tày, 50. Thái, 51. Thổ, 52. Xinh Mun, 53. Xơ Đăng, 54. Xtiêng.

      54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam có thể chia thành 08 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

      1. Nhóm Việt - Mường có 04 dân tộc là:
      • Kinh (Việt)
      • Chứt (Xá La Vàng, Chà Củi, Tắc Củi)
      • Mường (Mol, Mual, Mọi)
      • Thổ

      2. Nhóm Tày - Thái có 08 dân tộc là:
      • Bố Y (Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ Dí)
      • Giáy (Nhắng, Giắng, Sa Nhân, Pấu Thỉn, Chủng Chá, Pu Năm)
      • Lào (Lào Bốc, Lào Nọi)
      • Lự (Lừ, Duôn, Nhuồn)
      • Nùng
      • Sán Chay (Mán, Cao Lan - Sán Chỉ, Hờn Bạn, Hờn Chùng, Sơn Tử)
      • Tày (Thổ)
      • Thái (Táy)

      3. Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là:
      • Ba Na (Bơ Nâm, Roh, Kon Kde, Ala Công, Kpang Công)
      • Brâu (Brao)
      • Bru - Vân Kiều
      • Chơ Ro (Châu Ro, Dơ Ro, Mọi)
      • Co (Trầu, Cùa, Mọi, Col, Cor, Khùa)
      • Cơ Ho
      • Cơ Tu (Ca Tu, Ca Tang, Mọi, Cao, Hạ)
      • Giẻ Triêng (Giang Rẫy, Brila, Cà Tang, Mọi, Doãn)
      • Hrê (Mọi đá vách, Chăm Rê, Mọi Lũy, Thạch Bích, Mọi sơn phòng)
      • Kháng (Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng)
      • Khmer
      • Khơ Mú (Xá Cẩu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt Cang, Khá Klậu, Tênh)
      • Mạ
      • Mảng (Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa Mãng, Xá Cang Lai)
      • M’Nông
      • Ơ Đu (Tày Hạt)
      • Rơ Măm,
      • Tà Ôi (Tôi Ôi, Ta Hoi, Ta Ôih, Tà Uất, A tuất)
      • Xinh Mun (Puộc, Pụa, Xá.)
      • Xơ Đăng (Kmrâng, Hđang, Con Lan, Brila)
      • X’Tiêng (Xa Điêng, Mọi, Tà Mun)

      4. Nhóm Mông - Dao có 03 dân tộc là:
      • Dao (Mán, Động, Trại, Dìu, Miến, Kiêm, Kìm Mùn)
      • H’Mông (Mông, Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc)
      • Pà Thẻn (Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống)

      5. Nhóm Kadai có 04 dân tộc là:
      • Cờ Lao
      • La Chí (Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La Ti, Mán Chí)
      • La Ha (Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga)
      • Pu Péo (Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả, Mán)

      6. Nhóm Nam đảo có 05 dân tộc là:
      • Chăm (Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời, Chàm)
      • Chu Ru (Chơ Ru, Kru, Mọi)
      • Ê Đê (Đe, Mọi)
      • Gia Rai (Mọi, Chơ Rai)
      • Ra Glai (O Rang, Glai, Rô Glai, Radlai, Mọi)

      7. Nhóm Hán có 03 dân tộc là:
      • Hoa (Tiều, Hán)
      • Ngái (Sán Ngái)
      • Sán Dìu (Trại, Trại Đát, Sán Rợ, Mán quần cộc, Mán váy xẻ)

      8. Nhóm Tạng có 06 dân tộc là:
      • Cống
      • Hà Nhì (U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già)
      • La Hủ
      • Lô Lô (Mùn Di, Ô Man, Lu Lọc Màn, Di, Qua La, La La, Ma Di)
      • Phù Lá (Phú Lá)
      • Si La (Cú Đề Xừ)

      Có thể nhận thấy mỗi một dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi. Trong số các tên gọi đó có thể trùng nhau:

      • Dân tộc Mọi có thể là: Mường, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chơ Ro, Co, Cơ Tu, Giẻ Triêng, X’Tiêng, Hrê (Mọi đá vách, Mọi sơn phòng).

      • Dân tộc Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H’Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)

      • Dân tộc Xá có thể là: Xinh Mun, La Chí.

      • Dân tộc Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.

      • Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.




    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Văn Kỳ @ 08:45 01/05/2016
    Số lượt xem: 369
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tổng hợp bài giảng theo từng môn học

    Cười một chút

    Phong cảnh Việt Nam

    Phong cảnh